Thêm vào yêu thích | Chọn làm trang chủ | Quảng cáo | Liên hệ Bạn chưa là thành viên? đăng ký | đăng nhập
Bé yêu           Sản phụ           Giới tính           Thư viện sức khoẻ          
Đăng ngày 11-02-2011Giới tính
Giãn tĩnh mạch tinh - Một nguyên nhân vô sinh nam có thể điều trị được bằng phẫu thuật
Gần 50% những người bị vô sinh nam có tinh dịch đồ bất thường. Trong đó, giãn tĩnh mạch tinh (GTMT) là nguyên nhân hay gặp nhất và có thể điều trị được bằng phẫu thuật. Cắt cột tĩnh mạch tinh giãn làm cải thiện tinh dịch đồ trong 60-80% trường hợp, và đưa đến có thai tự nhiên ở 20-60% cặp vợ chồng.


Tần suất bị GTMT

Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới, GTMT xảy ra ở 11,7% đàn ông có tinh dịch đồ bình thường và ở 25,4% đàn ông có tinh dịch đồ bất thường. Hơn 80% trường hợp GTMT không bị hiếm muộn nhưng 35-40% đàn ông bị hiếm muộn nguyên phát bị GTMT và 69-81% đàn ông bị hiếm muộn thứ phát bị bệnh nầy. Điều nầy chứng tỏ GTMT làm suy giảm dần dần chức năng sinh tinh của tinh hoàn.

Các biến đổi mô học do GTMT

Các biến đổi mô học của tinh hoàn do GTMT gây ra cũng tương tự như các trường hợp giảm sinh tinh khác : có sự tăng sản (hyperplasia) của tế bào Leydig, giảm số lượng tế bào Sertoli trong mỗi ống sinh tinh, hiện tượng ngừng sinh tinh. Ở tại tĩnh mạch, tĩnh mạch càng giãn thì thành mạch càng dày do có sự tăng dưỡng (hypertrophy) các sợ cơ trơn dọc, nội mạc dày và tăng collagen và mô xơ thành mạch.

Sinh lý bệnh

Nguyên nhân: GTMT là bệnh lý liên quan đến tư thế đứng của loài người. GTMT thường xảy ra bên trái do tĩnh mạch tinh trong bên trái đổ thẳng góc vào tĩnh mạch thận, còn tĩnh mạch tinh bên phải thì đổ chéo góc vào tĩnh mạch chủ. Dẫn lưu của tĩnh mạch thận kém hơn tĩnh mạch chủ, nên áp lực thủy tĩnh ở tĩnh mạch tinh bên trái cao, dẫn đến giãn bó tĩnh mạch tinh. Khi GTMT xuất hiện bên phải, người ta ghi nhận tĩnh mạch tinh phải thay vì đổ vào tĩnh mạch chủ, lại đổ vào tĩnh mạch thận.

Ảnh hưởng của GTMT lên chức năng tinh hoàn

Tăng nhiệt độ được nhiều nghiên cứu xác nhận đã làm giảm chức năng của tinh hoàn, ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh tinh. Sự điều hòa nhiệt độ ở tinh hoàn được bảo đảm bằng hai cơ chế : da bìu có khả năng co giãn cao, sẽ giãn ra khi nóng; và búi tĩnh mạch tinh giúp làm nguội máu từ động mạch tới tinh hoàn. Khi tĩnh mạch tinh bị giãn, nó sẽ có nhiệt độ cao và không làm nguội máu động mạch được nữa.

Các chất chuyển hoá của thận và thượng thận. Adrenomullin, một chất giãn mạch mạnh mà bình thường chỉ tìm thấy trong tuyến thượng thận, thận, phổi, tim chứ không có trong tinh hoàn, cũng được tìm thấy với nồng độ cao bất thường trong tĩnh mạch tinh do hiện tượng dội ngược (reflux) từ tĩnh mạch thận và tĩnh mạch thượng thận vào tĩnh mạch tinh. Có thể adrenomullin góp phần làm tăng nhiệt độ bìu.

Thiếu ôxy trong GTMT có thể ảnh hưởng xấu đến chức năng tinh hoàn. Thiếu ôxy có thể đưa đến suy thoái các sợi cơ da bìu (cremaster), từ đó ảnh hưởng đến cơ chế điều hòa nhiệt độ của da bìu. Thiếu ôxy cũng gây ra sự biến đổi các nguyên bào sợi-cơ (myofibroblast) thành nguyên bào sợi, đưa tới hiện tượng xơ hoá quanh ống sinh tinh.

Ảnh hưởng của GTMT trên khả năng sinh con. Năm 1955, Tulloch ghi nhận một bệnh nhân vô tinh (không có tinh trùng) đã có con sau khi được phẫu thuật điều trị GTMT.

Tinh dịch đồ. Trong GTMT, hình ảnh của tinh dịch đồ hay gặp nhất là giảm độ di động (90% trường hợp), kế đến là mật độ tinh trùng thấp dưới 20 triệu/ml (65% trường hợp).

Nội tiết tố. Có những nghiên cứu cho thấy chức năng của tế bào Leydig bị giảm. Vì đây là tế bào sản xuất ra testosterone nên nồng độ testosterone trong máu của bệnh nhân GTMT thường giảm, và testosterone trở lại bình thường sau khi phẫu thuật. Chức năng của tế bào Sertoli cũng bị ảnh hưởng, biểu hiện bằng sự giảm đáp ứng với FSH. Vì vậy, nồng độ FSH của bệnh nhân GTMT thường cao.

Chẩn đoán

Khám lâm sàng. Bệnh nhân cần được khám ở tư thế đứng và nằm ngửa, khi khám sẽ sờ thấy búi tĩnh mạch dầy nằm trên tinh hoàn, thường là bên trái, và tinh hoàn cùng phía tĩnh mạch giãn thường nhỏ hơn tinh hoàn bên kia. GTMT thường được chia thành ba độ:

  • Độ 1 : GTMT chỉ sờ thấy khi làm nghiệm pháp Valsalva
  • Độ 2 : GTMT sờ thấy ở tư thế đứng
  • Độ 3 : GTMT nhìn thấy dưới da bìu và sờ thấy khi bệnh nhân đứng.

Xét nghiệm:

Các xét nghiệm giúp phát hiện GTMT mà khám lâm sàng bỏ sót (GTMT dưới lâm sàng [subclinical varicocele]).

Siêu âm, theo Pierek, giúp phát hiện 34% trường hợp GTMT mà khám lâm sàng bỏ sót. Siêu âm Doppler có giá trị cao trong chẩn đoán GTMT, nhưng hạn chế của xét nghiệm nầy là nó cần phải có dòng máu phun trong mạch máu thì nó mới phát hiện được mạch máu đó.

Chụp X quang tĩnh mạch là xét nghiệm chính xác nhất để chẩn đoán GTMT nhưng đây là một xét nghiệm xâm lấn và có những biến chứng nguy hiểm.

Các yếu tố tiên lượng

Độ GTMT. Sau mổ, tỉ lệ có thai tự nhiên của những bệnh nhân bị GTMT độ 2 và độ 3 cao hơn những người bị GTMT độ 1.

Thể tích tinh hoàn. Những người có tinh hoàn có thể tích bình thường có tỉ lệ có thai tự nhiên sau mổ cao hơn những người có tinh hoàn teo.

Yếu tố nội tiết:

Nồng độ FSH bình thường trước mổ là yếu tố tiên lượng tốt.

Tinh dịch đồ. Những bệnh nhân trước mổ có mật độ tinh trùng trên 5 triệu/ml có sự cải thiện rõ rệt sau mổ. Độ di động trên 60% cũng là yếu tố tiên lượng tốt. 21-55% bệnh nhân vô tinh trước mổ sẽ có tinh trùng di động trở lại trong tinh dịch, và ít nhất là 25% những bệnh nhân nầy có thai tự nhiên. 69-86% bệnh nhân bị thiểu nhược tinh nặng (< 1 triệu tinh trùng /ml) có tinh dịch đồ cải thiện sau mổ, 38% bệnh nhân sẽ làm cha, bao gồm 21% bệnh nhân làm cha không cần các biện pháp hỗ trợ sinh sản.

Điều trị:

Mục tiêu của điều trị GTMT là cải thiện chức năng của tinh hoàn và tinh dịch đồ để làm tăng khả năng có con.

X quang can thiệp làm tắc mạch có tỉ lệ biến chứng chung là 6% như thủng mạch máu, thuyên tắc mạch. Biện pháp nầy chỉ nên dành cho những trường hợp phẫu thuật thất bại.

Phẫu thuật cột tĩnh mạch tinh ngã sau phúc mạc (phẫu thuật Palomo) có tỉ lệ tái phát cao và không bảo tồn động mạch tinh. Phẫu thuật ngã bẹn (phẫu thuật Ivanissevich) có tỉ lệ tái phát thấp hơn và bảo tồn được động mạch tinh, bạch mạch nhờ sử dụng vi phẫu; bất lợi là đau vùng bẹn sau mổ. Phẫu thuật ngã dưới bẹn có những thuận lợi tương tự như phẫu thuật ngã bẹn và ít đau hơn do không cắt cơ, tuy nhiên cần phải có vi phẫu. Phẫu thuật ngã bìu không còn được áp dụng nữa do có nhiều biến chứng. Phẫu thuật nội soi ổ bụng có tỉ lệ thành công tương tự phẫu thuật ngã sau phúc mạc; tuy nhiên nội soi ổ bụng lại tốn kém nhiều và nó biến phẫu thuật điều trị GTMT từ ngoài phúc mạc thành phẫu thuật qua phúc mạc với nguy cơ tổ thương ruột và các tạng trong ổ bụng.

Tóm lại vi phẫu thuật ngã dưới bẹn hay ngã bẹn thấp là phẫu thuật có tỉ lệ thành công cao nhất, ít biến chứng nhất và hiệu quả kinh tế cao nhất.

Kết quả:

Đa số các nghiên cứu đều cho thấy điều trị GTMT giúp cải thiện tinh dịch đồ và tỉ lệ có thai. Ở những cặp không thể có con tự nhiên sau phẫu thuật thì phối hợp bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI) làm tăng tỉ lệ có thai.

Mối liên hệ hiệu quả-chi phí. Tuy có sự thành công ngoạn mục của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như IUI, IVF, ICSI, không nên bỏ qua việc điều trị bệnh nhân nam bị hiếm muộn mà tiến thẳng đến các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì có những trường hợp hiếm muộn nam có thể điều trị có hiệu quả như GTMT. Tại Mỹ, 1994, theo Schlegel, chi phí cho mỗi trường hợp sinh con nhờ phẫu thuật điều trị GTMT là 26 300 USD; trong khi đối với ICSI là 89 000 USD.

BS Nguyễn Thành Như
(Theo BVTD)

 
Lưu vào sưu tập  |   Chép về máy  |    Bản in  |    Gởi cho bạn bè
Các ý kiến cùng chủ đề (2)
1. Hỏi (24/03/2011)
Chào Bác sỹ! Tôi cũng bị tương tự như trên, nhưng là bên phải. Mỗi lần uống nhiều nước, làm việc nặng hay đi lại nhiều là bị đau, chỉ hết khi nằm nghỉ. Vậy có phải tôi bị GTMT...
Anh nên đến BV có chuyên khoa Tiết niệu để được các BS khám và điều trị cho phù hợp.
Ý kiến của bạn
Các tin Giới tính khác:
Theo giới chuyên môn, trong khoảng thời gian 10 năm trước giai đoạn mãn kinh,...
Để giảm nhẹ triệu chứng mãn kinh
Vị thành niên không còn là trẻ con, nhưng chưa phải đã thành người lớn,...
Vị thành niên với tình yêu và vấn đề tình dục
Can thiệp y khoa và thụ tinh trong ống nghiệm đã giúp nhiều phụ nữ...
Những độ tuổi không thích hợp để mang thai
Bé yêu
Vừa rồi dẫn con đi khám bệnh, tôi thấy có nhiều trẻ...
Sản phụ
Mắc bệnh thủy đậu, chị Mai (TP.HCM) rất lo lắng, con gái...
Thư viện sức khoẻ
1. Gan nhiễm mỡ (GNM) là gì?
 
© 2009 Mạng cộng đồng "Một Gia Đình" dành cho mẹ và bé. Vui lòng ghi rõ nguồn "Motgiadinh.com" khi đăng tải lại nội dung tại website.