Thêm vào yêu thích | Chọn làm trang chủ | Quảng cáo | Liên hệ Bạn chưa là thành viên? đăng ký | đăng nhập
Bé yêu           Sản phụ           Giới tính           Thư viện sức khoẻ          
Đăng ngày 25-02-2011Giới tính
Cho - Nhận tinh trùng
Cho và nhận tinh trùng, hay điều trị vô sinh bằng tinh trùng của người cho, là kỹ thuật điều trị vô sinh lâu đời nhất trong lịch sử loài người. Đây cũng được coi là kỹ thuật thành công nhất và được áp dụng nhiều nhất từ trước đến nay. Vào thời điểm hiện tại, khi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (HTSS) đã có những bước phát triển nhảy vọt thì kỹ thuật điều trị vô sinh bằng Cho - Nhận tinh trùng (CNTT) vẫn có vị trí không thể thay thế.

Nghị định chính phủ về ‘Sinh con theo phương pháp khoa học’ ban hành tháng 3/2003 vừa qua đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của kỹ thuật này, đồng thời quy định trách nhiệm và quyền hạn của những người liên quan trong việc thực hiện kỹ thuật. Tại sao một kỹ thuật đơn giản, hiệu quả như vậy lại cần những quy định pháp lý mới được phép triển khai? Hãy cùng điểm lại một vài kinh nghiệm của người đi trước để hiểu thêm về kỹ thuật này.

Người nhận tinh trùng

Chuyện của bác sĩ Addison Hard

“Chuyện xảy ra vào năm 1884, tại trường Y khoa Jefferson ở Anh. Vợ chồng một thương gia được chẩn đoán bị vô sinh do chồng không có tinh trùng. Giáo sư và sinh viên chúng tôi thống nhất lấy mẫu tinh trùng của một chàng sinh viên ‘đẹp trai nhất lớp’ để cho người vợ. Bà ta có thai và sinh ra một bé trai, nhưng chỉ người chồng được cho biết về kỹ thuật điều trị và ông ta yêu cầu được giữ kín điều này. Mới hôm rồi tôi sang Mỹ thăm lại nhà đó, cậu bé ấy đã 25 tuổi rồi đấy!”

Đây là trường hợp CNTT thành công đầu tiên được ghi nhận trong sách vở. Theo một số ý kiến riêng thì kỹ thuật này đã được bắt đầu thực hiện tại Pháp còn trước cả thời điểm nêu trên. Có thể thấy rõ bề dày lịch sử của kỹ thuật này đã hơn 100 năm, nhưng điều đáng ngạc nhiên là đến những năm những năm 1990, vẫn không ai biết được con số cụ thể được CNTT hàng năm, và chắc chắn là không ai có thể biết được đã có bao nhiêu trẻ sinh ra từ kỹ thuật này từ trước đến nay!

Có thể bạn tự hỏi tại sao phải giữ kín việc điều trị? Rõ ràng cả bác sĩ lẫn bệnh nhân đều cảm nhận được rằng đây không phải là một trị liệu bình thường, ảnh hưởng của nó không chỉ trong vài tháng hay vài năm mà kéo dài cả nhiều thế hệ. Họ đồng ý ‘quên đi’ nguồn gốc từ bên ngoài của đứa con, cho rằng nếu chuyện lộ ra sẽ ảnh hưởng đến gia đình, đến đứa trẻ. Suốt trong một thời gian dài CNTT được thực hiện trong bóng tối, là sự thoả thuận ngầm giữa gia đình người bệnh và thầy thuốc. Đứa trẻ sinh ra mặc nhiên được xem là người con hợp pháp của cha mẹ nó. Bệnh nhân được giải phóng khỏi mặc cảm hiếm muộn, đứa trẻ không phải bận tâm về nguồn gốc của mình, xã hội yên ổn vì dường như mọi người đều hạnh phúc… nhưng có phải tất cả đều thực sự hạnh phúc không?

Đứa bé tạo thành

Chuyện của Bill Cordray

“Cha dường như luôn xa cách tôi. Tôi biết với mọi người ông không như vậy, bởi thế tôi cũng giữ khoảng cách với ông vì nghi ngờ rằng cha không phải là cha ruột của tôi. Cuối cùng tôi phải hỏi thẳng mẹ rằng liệu tôi có phải là con ngoài giá thú của mẹ với người khác không, để rồi biết được rằng tôi ra đời qua kỹ thuật CNTT. Nếu biết sớm hơn, tình cảm tôi dành cho cha đã không như vậy.

Một lần nọ, tôi nghe giới thiệu về chương trình CNTT trên đài. Người trình bày vẽ vời đủ chuyện về độ bảo mật tuyệt hảo của chương trình, rằng không bao giờ có khả năng người cho và đứa bé sinh ra gặp nhau. Tôi thấy nóng mặt, ê, vậy những người như tôi không có ý nghĩa gì cả sao? Nếu tôi muốn tìm lại “cha” của tôi thì ai cấm? Mấy người là ai mà đòi quyết định số phận của tôi?”

Trên thực tế, hầu như toàn bộ các nghiên cứu khảo sát cuộc sống và phát triển của những đứa trẻ sinh ra qua CNTT đều cho thấy chúng được đối xử tốt, sống hoà nhập với gia đình. Trường hợp như Bill Cordray tuy ít nhưng không hiếm, và hoàn toàn không có quyền được bỏ qua. Các em bé sinh ra từ CNTT vẫn là những con người, có đầy đủ những quyền hợp pháp mà xã hội trao cho. Chúng có quyền được biết chúng từ đâu ra, nếu như chúng thật sự muốn biết.

Chuyện của Eck-Menning

“Phải thú nhận rằng tôi vẫn băng khoăn về huyết thống dù đã có hai đứa con dễ thương qua CNTT. Chắc anh cũng hiểu, cảm giác hụt hẫng khi nghĩ rằng dòng họ mình đến đời tôi là chấm hết. Không, đừng hiểu lầm tôi! Không phải tôi không yêu bọn trẻ, tôi dám thề rằng tôi sẽ không thể sống thiếu chúng, nhưng nếu có cơ hội có đứa con bằng chính máu thịt mình thì tốn bao nhiêu tôi cũng sẵn lòng!”

Theo quan niệm chung, đứa con đóng vai trò chất keo nối kết người chồng và người vợ trong gia đình. Nếu không có đứa bé, về mặt sinh học thì hai vợ chồng chỉ là hai người lạ sống chung dưới một mái nhà. Với đứa bé sinh ra qua CNTT, mối liên hệ giữa chúng và người cha trong gia đình gián tiếp thông qua tình cảm của người cha với người mẹ - người mẹ ruột mang nặng đẻ đau ra chúng. Bởi thế cho nên với người cha, đứa trẻ sinh ra từ CNTT luôn thua sút chút gì đó so với đứa trẻ có một phần máu thịt của ông ta.

Không con cái nào có khả năng chọn được cha mẹ cho mình, do vậy sẽ là lỗi của chúng ta nếu chọn cho chúng một gia đình khiếm khuyết hoặc bất thường. Một cách tổng quát, quyền lợi của trẻ sinh ra từ CNTT cần được đảm bảo trước khi chúng ra đời, cho phép chúng có một cuộc sống bình thường để phát triển như mọi đứa trẻ khác trong xã hội.

Người cho tinh trùng

Nghiên cứu của Schoysman

“Chúng tôi tin rằng không chỉ không nên cho người cho tinh trùng (TT) biết về người nhận, mà còn không nên cho người cho [TT] biết kết quả của việc điều trị. Nếu người cho [TT] biết rằng trị liệu thành công, tinh trùng của ông ta đã tạo được một đứa trẻ thì nhiều khả năng trong tương lai, người cho muốn tìm lại đứa trẻ ấy. Khả năng ấy càng cao nếu như ông ta không có con, hoặc vì một lý do nào đó đứa con qua đời. Vì vậy người cho [TT] không nên được cho biết bất kỳ điều gì sau khi cho đi mẫu tinh trùng của mình.”

Đây là quan điểm của hầu hết mọi người về người cho tinh trùng, cụ thể về quyền được biết thông tin của người cho tinh trùng. Quan niệm này đang dần được thay đổi khi có nhiều hơn những khảo sát về người cho. Kết quả nghiên cứu cho thấy người cho thực sự mong muốn biết được thông tin lâu nay vẫn bị giấu kín và có thái độ tích cực trong trường hợp được biết thông tin này. Có một cái gì đó hơi bất công đối với người cho tinh trùng. Với người hiến máu hoặc nội tạng, họ được mọi người tôn vinh, trân trọng. Người ta có thể trân trọng nói đến anh A, chị B… là người đã hàng chục lần hiến máu cứu người, nhưng chưa ai từng bao giờ [và có thể sẽ còn lâu lắm mới có thể] giới thiệu ông Y, ông Z… là người đã đóng góp cho xã hội những đứa trẻ-hoàn-toàn-bình-thường bằng cách cho đi tinh trùng của chính mình!

Xu hướng hiện tại chủ động nhìn vấn đề theo cả ba hướng, người nhận, người cho và đứa trẻ tạo ra do CNTT để vạch nên quy định và chính sách thỏa mãn quyền lợi hợp pháp của cả ba nhóm đối tượng này.

Vai trò của y tế - Ngân hàng tinh trùng

Kỹ thuật CNTT không bao giờ được thực hiện nếu không có vai trò trung gian của nhân viên y tế. Và như trong chuyện của Addison Hard, đã có một thời gian nhân viên y tế hoặc sinh viên y khoa đồng thời đóng vai trò người cho tinh trùng. Trong y văn cũng ghi nhận một vài trường hợp một bác sĩ đã sử dụng tinh trùng của bản thân mình cho TẤT CẢ những bệnh nhân đến xin điều trị bằng CNTT nơi phòng khám của ông ta(!).

Mặc dù CNTT được thực hiện từ cuối thế kỷ XIX và tinh trùng có thể được trữ lạnh từ năm 1949, mãi đến những năm 80 của thế kỷ XX đại dịch AIDS mới đưa vai trò của Ngân hàng tinh trùng (NHTT) vào đúng vị trí của nó. Kể từ lúc này, quy trình CNTT chuẩn bao gồm giai đoạn trữ lạnh tinh trùng người cho để xác định độ an toàn trước khi sử dụng cho người nhận có nhu cầu.

Nhà làm luật - Sự khác biệt giữa các quốc gia

Sử dụng tinh trùng người cho để điều trị vô sinh đối với đa số người là chuyện đương nhiên hoặc có thể chấp nhận được. Kỹ thuật này được phép áp dụng có kiểm soát ở hầu hết các quốc gia có sử dụng kỹ thuật HTSS. Tuy nhiên, với một số người khác thì CNTT là điều không nên làm, thậm chí riêng ở nước Lybie, CNTT hoàn toàn bị cấm. Khó có thể buộc mọi người cùng tin rằng CNTT là việc nên làm hoặc không nên làm. Với CNTT, đây là một kỹ thuật tương đối đơn giản và an toàn mà một số không ít người trong xã hội có nhu cầu. Việc chấp nhận và đề ra hướng quản lý phù hợp kỹ thuật này có lợi hơn cho bệnh nhân.

Dựa trên nền tảng đạo đức, tôn giáo cũng như những quan niệm sống khác nhau trong xã hội mà những nhà làm luật của từng nước đề ra các luật lệ và hướng dẫn khác nhau cho kỹ thuật CNTT. Khác biệt giữa các quốc gia thuộc về đối tượng được nhận tinh trùng, tiêu chuẩn để chọn người cho tinh trùng, nguyên tắc quản lý thông tin cũng như quy định về trách nhiệm và quyền lợi của các bên có liên quan trong quy trình CNTT.

Thay lời kết

Đầu và giữa năm 2003, lần lượt Nghị định và Thông tư của chính phủ được công bố cho phép và hướng dẫn thực hiện kỹ thuật sinh con bằng phương pháp khoa học. Hai văn bản trên bảo đảm tính pháp lý cho việc thực hiện kỹ thuật CNTT trên đối tượng là cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có nhu cầu sinh con. Nghị định cũng quy định việc thành lập Ngân hàng tinh trùng là nơi chọn lọc, bảo quản và cung cấp tinh trùng cho bệnh nhân khi có yêu cầu.

Chuyện của Tự Lực

“…Một cặp vợ chồng sống với nhau thật hạnh phúc nhưng lại hiếm muộn con. Sau một thời gian chạy chữa người ta mới phát hiện ra nguyên nhân do chồng không có tinh trùng. Quan niệm Á đông cho rằng con trai phải có được người nối dõi mới là hiếu, gia đình phải có con cái mới là hiền. Thương chồng, người vợ tự mình ‘liên hệ’ để sau cùng có thai và sinh được đứa con trai. Ngoài hai vợ chồng, không ai trong gia đình biết chuyện. Cậu bé được đặt tên là Tự Lực…”

Không cần nói ra cũng biết người vợ đã phải trăn trở, người chồng đã phải nhẫn nhục như thế nào để có được đứa con ấy. Với sự phát triển không ngừng của kỹ thuật HTSS và sự ra đời của Nghị định chính phủ về "Sinh con theo phương pháp khoa học", kể từ nay, hy vọng những câu chuyện buồn như thế mãi mãi chỉ còn trong dĩ vãng.

Bs. Đỗ Quang Minh
(Theo BV TuDu)

 
Lưu vào sưu tập  |   Chép về máy  |    Bản in  |    Gởi cho bạn bè
Ý kiến của bạn
Các tin Giới tính khác:
Theo giới chuyên môn, trong khoảng thời gian 10 năm trước giai đoạn mãn kinh,...
Để giảm nhẹ triệu chứng mãn kinh
Vị thành niên không còn là trẻ con, nhưng chưa phải đã thành người lớn,...
Vị thành niên với tình yêu và vấn đề tình dục
Can thiệp y khoa và thụ tinh trong ống nghiệm đã giúp nhiều phụ nữ...
Những độ tuổi không thích hợp để mang thai
Bé yêu
Vừa rồi dẫn con đi khám bệnh, tôi thấy có nhiều trẻ...
Sản phụ
Mắc bệnh thủy đậu, chị Mai (TP.HCM) rất lo lắng, con gái...
Thư viện sức khoẻ
1. Gan nhiễm mỡ (GNM) là gì?
 
© 2009 Mạng cộng đồng "Một Gia Đình" dành cho mẹ và bé. Vui lòng ghi rõ nguồn "Motgiadinh.com" khi đăng tải lại nội dung tại website.